HIV/AIDS là một căn bệnh thế kỉ đã cướp đi bao nhiêu sinh mạng và phá huỷ tương lai của không ít thế hệ các gia đình có người bị nhiễm. Với nguy cơ lây nhiễm cao, HIV/AIDS trở thành mầm mống đe dọa tính mạng, sức khỏe thậm chí là tương lai của con người. Không những vậy, nó còn tác động mạnh mẽ đến kinh tế, văn hóa, an ninh trật tự và an toàn xã hội cùng hàng trăm những vấn đề khác liên quan.

Nếu HIV/AIDS trở thành một đại dịch không thể kiểm soát được thì mọi thứ sẽ như thế nào? Có thể nói khi HIV/AIDS trở thành đại dịch thì con người sẽ phải đối mặt với vô số những vấn đề nghiêm trọng khác nhau. Hệ luỵ của nó khiến cho trật tự xã hội xuống cấp, tính mạng con người bị đe dọa, gia đình, cộng đồng và các tổ chức xã hội không tiếp tục duy trì sự ổn định. 

Vậy phòng bệnh HIV/AIDS bằng cách nào hiệu quả nhất? Làm cách nào để ngăn chặn và khắc phục khi tỷ lệ người mắc bệnh ngày một tăng cao và không có dấu hiệu giảm xuống? HIV/AIDS như nguyên nhân, dấu hiệu, biểu hiện, cách đề phòng và một số vấn đề khác. WikiFCarePlus với một vài thông tin chia sẻ trên có thể giúp bạn có thêm thông tin trong việc bảo vệ bản thân và gia đình, người thân, bạn bè cũng như góp phần giúp xã hội đẩy lùi căn bệnh nguy hiểm này.

1. HIV/AIDS và các đối tượng dễ bị lây nhiễm

Theo thống kê, số người nhiễm bệnh HIV/AIDS chiếm tới 1% – 5% tổng dân số. Các nhóm đối tượng dễ bị lây nhiễm HIV/AIDS bao gồm:

  • Nhóm đối tượng có biểu hiện khác thường về giới
  • Những người chỉ thích mặc đồ của giới đối lập 
  • Người lưỡng tính
  • Người có xu hướng tình dục đồng giới
  • Nhóm những người không muốn yêu lâu, nhanh đổi bạn tình.
  • Trẻ vị thành niên.
  • Nghiện ma túy.
  • Người khuyết tật.
  • Phụ nữ mại dâm.
  • Có quan hệ phức tạp tình cảm.

2. Các phương thức lây truyền HIV

Bệnh nhân AIDS và người nhiễm HIV là nguồn truyền nhiễm duy nhất của nhiễm HIV. Không có ổ chứa nhiễm trùng HIV/AIDS ở động vật. Tất cả mọi người điều có khả năng cảm nhiễm HIV.

HIV được phân lập từ máu, tinh dịch, dịch tiết âm đạo, nước bọt, nước mắt, sữa mẹ, nước tiểu và các dịch khác của cơ thể, nhưng nhiều nghiên cứu về dịch tể học cho thấy rằng chỉ có máu, tinh dịch và dịch tiết âm đạo đống vai trò quan trọng trong việc lây truyền HIV.

Do đó chỉ có 3 phương thức hay đường lây truyền chính của HIV, trong đó HIV-2 có xác suất truyền qua đường mẹ sang con và quan hệ tình dục ít hơn HIV-1.

2.1 Lây truyền từ mẹ sang con 

HIV lây truyền virus từ mẹ sang con có thể xảy ra trong tử cung (vào thời kỳ mang thai), trong quá trình chuyển dạ (sinh con), hoặc thông qua việc cho con bú. Trong trường hợp không điều trị, tỷ lệ lây truyền giữa mẹ và con lên đến khoảng 25%.

Tuy nhiên, với sự kết hợp điều trị bằng thuốc kháng virus và mổ lấy thai thì nguy cơ này có thể được giảm xuống thấp khoảng 1%. Sau khi sinh thì có thể ngăn ngừa lây truyền bằng cách tránh hoàn toàn nuôi con bằng sữa mẹ. Nhưng điều này cũng liên quan đáng kể đến các bệnh khác.

Cho con bú hoàn toàn bằng sữa mẹ và cung cấp điều trị dự phòng kháng virus mở rộng cho trẻ sơ sinh cũng có hiệu quả trong việc tránh lây truyền. UNAIDS ước tính có 430.000 trẻ em bị nhiễm HIV trên toàn thế giới trong năm 2008 (19% là các ca nhiễm mới), chủ yếu là từ đường mẹ sang con, và thêm 65.000 ca lây nhiễm đã được ngăn chặn thông qua việc cung cấp điều trị dự phòng kháng virus cho phụ nữ nhiễm HIV dương tính.

2.2 Lây truyền qua đường máu

HIV có trong máu toàn phần và các thành phần của máu như hồng cầu, tiểu cầu, huyết tương, các yếu tố đông máu. Do đó HIV có thể được truyền qua máu hay các sản phẩm của máu có nhiễm HIV. Nguy cơ lây truyền qua đường máu có tỷ lệ rất cao, trên 90%.

Nếu vết thương hở tiếp xúc với máu bị nhiễm HIV thì sẽ bị lây truyền. Các đối tượng dễ bị lây nhiễm qua đường máu là những người tiêm chích ma túy, những bệnh nhân mắc bệnh rối loạn đông máu di truyền (bệnh ưa chảy máu), người nhận trong quá trình truyền máu (mặc dù hầu hết ở các nước thì máu khi dùng để truyền đều được xét nghiệm HIV) và các sản phẩm máu.

Lây truyền HIV qua đường máu cũng là vấn đề lo ngại đối với những người được chăm sóc y tế tại các khu vực có vệ sinh không đạt tiêu chuẩn thông thường trong việc sử dụng các dụng cụ tiêm chích, chẳng hạn như việc tái sử dụng kim tiêm ở các nước thế giới thứ ba. 

HIV cũng truyền qua các dụng cụ xuyên, chích qua da chưa được tiệt trùng như bơm kim tiêm (tiêm chích ma túy), kim xâu tai, dao cạo râu…khi các dụng cụ đó có virus HIV.

Lây truyền trong chăm sóc y tế: Nhân viên y tế như y tá, nhân viên phòng thí nghiệm, và các bác sĩ cũng là đối tượng rủi ro cao, mặc dù hiếm xảy ra hơn. Kể từ khi việc lây nhiễm HIV qua đường máu được phát hiện thì các nhân viên y tế cần thiết phải bảo vệ mình không tiếp xúc với máu bằng cách sử dụng các biện pháp dự phòng phổ quát.

HIV được tìm thấy với nồng độ thấp trong nước bọt, nước mắt, và nước tiểu của các cá nhân bị nhiễm bệnh, nhưng không có trường hợp nào bị lây nhiễm bởi những chất tiết này được ghi nhận và nguy cơ tiềm năng lây truyền là không đáng kể.

2.3 Qua hệ tình dục không dùng Bao cao su

Phần lớn HIV lây qua đường quan hệ tình dục không được bảo vệ (quan hệ tình dục không an toàn). Ước tính tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trên thế giới qua đường tình dục chiếm khoảng 75% trong tổng số người bị nhiễm HIV/AIDS.

Việc chủ quan đối với HIV đóng một vai trò quan trọng trong nguy cơ bị lây bệnh. Lây truyền qua đường tình dục có thể xảy ra khi chất tiết sinh dục của một bạn tình có chứa virus, tiếp xúc với niêm mạc sinh dục, miệng, hoặc trực tràng của người còn lại. Nguy cơ lây nhiễm qua một lần giao hợp với người nhiễm HIV là 0,1% đến 1%.

Ở các quốc gia có thu nhập cao, nguy cơ nữ lây truyền cho nam là 0.04% cho mỗi lần quan hệ và nam truyền cho nữ là 0.08%. Vì những lý do khác nhau, nguy cơ này cao hơn từ 4 đến 10 lần ở các nước có thu nhập thấp. Người giao hợp qua đường hậu môn có nguy cơ bị lây nhiễm cao hơn 1.7% cho mỗi lần quan hệ.

Người nào có nhiều bạn tình, đồng thời quan hệ tình dục không an toàn thì càng có nguy cơ lây nhiễm HIV. Mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục như giang mai, lậu… đều làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS lên gấp 20 lần.

Ngoài 3 con đường trên, virus HIV không lây qua bất kỳ con đường nào khác. Muỗi chích cũng không thể truyền HIV.

3. HIV/AIDS và quan hđồng tính

Các đồng tính nam thường quan niệm sai lầm rằng, chỉ có quan hệ khác giới mới bị nhiễm HIV, giang mai, mào gà… còn đồng tính thì không. Họ ít khi sử dụng các biện pháp phòng tránh khi quan hệ tình dục.

Một khảo sát của Ban quản lý dự án phòng chống HIV/AIDS (Việt Nam) trên 300 đồng tính nam cho thấy một số chỉ sử dụng bao cao su với bạn tình mới quen lần đầu, khi thân rồi họ không đề phòng nữa.

Trên thế giới, năm 2014, tỷ lệ nhiễm HIV ở các cặp đồng tính luyến ái được ước tính trong khoảng 2-5%. Tỷ lệ lây nhiễm HIV/AIDS khi quan hệ tình dục đồng tính được ước tính là cao hơn 18 lần so với quan hệ tình dục khác giới.

Theo thống kê của Trung tâm kiểm soát dịch bệnh Mỹ năm 2011 cho biết: nam đồng tính có khả năng nhiễm HIV cao gấp 44 tới 86 lần so với nam giới bình thường, và cao gấp 40 tới 77 lần so với nữ giới. Năm 2009, thống kê cho biết có 61% số ca nhiễm HIV mới ở Mỹ là đồng tính hoặc song tính (bisexual), dù nhóm này chỉ chiếm khoảng 2% dân số Mỹ.

Theo trung tâm kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ, những người đồng tính nam có quan hệ tình dục đồng tính là những người bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi HIV/AIDS ở Hoa Kỳ. Năm 2017, người đồng tính nam và song tính chiếm 70% (27.000) trong số 38.739 ca nhiễm HIV mới ở Hoa Kỳ.

Hầu hết những người đồng tính nam bị nhiễm HIV khi quan hệ tình dục qua đường hậu môn, bởi đây là loại quan hệ tình dục tạo ra nguy cơ lây nhiễm HIV cao nhất. Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) khuyến nghị tất cả những người có hoạt động tình dục đồng tính nam nên đi xét nghiệm HIV/AIDS ít nhất một lần mỗi năm. Một số người đồng tính nam thì nên đi xét nghiệm cứ sau 3 đến 6 tháng.

Theo Cơ quan bảo vệ sức khỏe Anh (HPA), cứ trong 20 người đàn ông có quan hệ tình dục đồng tính ở Anh thì có một người bị nhiễm HIV. Riêng tại Luân Đôn tỉ lệ này là 1/12.

Theo thống kê năm 2010, trong tổng số hơn 12.000 thanh niên Mỹ nhiễm HIV/AIDS thì có tới 72% số người có quan hệ tình dục đồng giới. Gần một nửa số ca nhiễm HIV ở nam giới đồng tính và song tính xảy ra chủ yếu ở 7 thành phố: New York, Los Angeles, Miami, Atlanta, Chicago, Dallas và Houston.

Cộng đồng đồng tính luyến ái ở Châu Phi bị ảnh hưởng nặng bởi nhiễm HIV và các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh cao hơn đáng kể ở nam giới có quan hệ tình dục đồng tính so với dân số nói chung. Ở Sénégal, 21,7% nam giới đồng tính bị nhiễm HIV so với 0,7% trong dân số nói chung, 40% nam giới đồng tính bị nhiễm HIV so với trung bình 6,1% ở Kenya.

Tại Thái Lan, nhóm nam quan hệ đồng giới có tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS là 7.1%, nhóm nam giới bán dâm là 12,2%. Quanh vùng khu vực Bangkok – nơi tập trung những người đồng tính – theo báo cáo năm 2010 có 31% nhiễm HIV.

Tỷ lệ người nhiễm giang mai đã phát hiện và đang điều trị là 24,4%. Trung bình cứ 3 người Thái đồng tính nam ở Bangkok thì có một người nhiễm HIV, cứ 4 người là có một người nhiễm giang mai.

Theo báo cáo tiến độ phòng chống HIV/AIDS năm 2012, tỉ lệ nhiễm HIV trong những người nam quan hệ tình dục với nam ở Thành phố Hồ Chí Minh là 16%, tỷ lệ chỉ đứng sau nhóm tiêm chích ma túy.

Tại đây, cứ 5 nam quan hệ đồng giới thì có một người nhiễm ít nhất một trong các nhiễm khuẩn giang mai, lậu sinh dục, lậu trực tràng, chlamydia sinh dục hoặc chlamydia trực tràng.

Quan hệ đồng tính nam có nguy cơ bị nhiễm HIV/AIDS cao gấp 20 lần gái mại dâm. Nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ lây nhiễm HIV/AIDS cao do một đồng tính nam thường có nhiều bạn tình, họ thường giới thiệu bạn tình cho nhau và cùng quan hệ, nên chỉ cần 1 người nhiễm HIV thì sẽ nhanh chóng lây lan sang các đối tượng khác.

Theo báo cáo năm 2011, tỉ lệ nhiễm HIV trong nhóm đồng tính nam ở Đồng Nai cao gấp 20 lần so với đối tượng ma túy và mại dâm. Nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ lây nhiễm HIV/AIDS cao do một đồng tính nam thường có nhiều bạn tình, họ thường giới thiệu bạn tình cho nhau và cùng quan hệ, nên chỉ cần 1 người nhiễm HIV/AIDS thì sẽ nhanh chóng lây lan sang các đối tượng khác.

Họ ít khi sử dụng các biện pháp phòng tránh khi quan hệ tình dục, cũng có một vài đồng tính nam nhận thức được nguy cơ bị lây nhiễm HIV cao, nhưng họ không có biện pháp bảo vệ vì sợ bị bạn tình bạo hành.

Tại TP HCM, năm 2014, nhóm nam có quan hệ tình dục đồng giới nhiễm HIV/AIDS đang có chiều hướng gia tăng nhanh so với năm 2012, từ 7,33% lên 14,75%. Mặt khác, người đồng tính thường hẹn hò nhiều, nhu cầu tình dục rất lớn, tần suất giao hợp cao nên một người đồng tính thường có nhiều bạn tình.

Một nam đồng tính 25 tuổi ở Hà Nội cho biết anh ta có hơn 100 bạn tình, nhiều lúc họ còn trao đổi bạn tình cho nhau trong khi kiến thức tình dục thì sai lệch. Họ cho rằng HIV chỉ lây khi quan hệ tình dục với phụ nữ, còn nam quan hệ với nam thì không sao.

Shot in Moreno Valley, Calif. in Feb. of 2014.

Do xã hội không còn khắt khe với những người đồng tính nữa nên nhiều người đồng tính sống buông thả, thường xuyên quan hệ tình dục tập thể trong khi kiến thức an toàn tình dục còn nhiều hạn chế, nhiều trường hợp tuổi đời còn trẻ đã mang trong mình một lúc mấy bệnh: cả bệnh giang mai, sùi mào gà và cả HIV/AIDS.

4. Các xét nghiệm chẩn đoán bệnh nhiễm HIV

4.1 Test nhanh bằng que thử HIV

Tìm hệ thống miễn dịch trong nước bọt, tuy nhiên, việc test bằng que test nhanh không chính xác, đặc biệt là những người nhiễm HIV ở thời kỳ tiền cửa sổ (tức khoảng 3-6 tháng sau khi nhiễm). Do đó, cần xét nghiệm máu là phương pháp chính xác.

4.2 Xét nghiệm máu HIV

HIV ag/ab elisa- phát hiện trường hợp nhiễm cấp tính và những người mới nhiễm HIV ở giai đoạn rất sớm. Trường hợp xét nghiệm với phụ nữ đang mang thai thì ưu tiên loại xét nghiệm này vì phát hiện rất sớm nhằm ngăn cản virus HIV vào cơ thể của người con.

HIV anti HIV elisa – xét nghiệm này đưa ra kết quả chính xác nhất tuy nhiên hạn chế của xét nghiệm này là không biết mức độ cũng như khả năng lây bệnh của người đang nhiễm.

4.3 Xét nghiệm kháng thể

Nhằm phát hiện các kháng thể kháng HIV để nhận biết sự xuất hiện của HIV trong cơ thể. Xét nghiệm hấp thụ miễn dịch liên kết Enzym sàng lọc ban đầu, nếu xét nghiệm là dương tính, thì sẽ tiếp tục tiến hành xét nghiệm khác để đi đến kết quả cuối cùng.

5. Phòng chống bệnh HIV/AIDS

Vì HIV/AIDS là căn bệnh thế kỷ, mỗi cá thể sẽ có nhiều trường hợp riêng biệt đặc thù, nên việc chủ động phòng chống các nguy cơ mắc phải HIV là cần thiết nhất ở ý thức của mỗi con người.

5.1 Phòng tránh HIV/AIDS lây qua đường tình dục

Đề phòng lây qua đường tình dục bằng cách thực hiện lối sống lành mạnh, 1 vợ 1 chồng, cả hai đều không nhiễm HIV, không quan hệ tình dục bừa bãi. 

Nếu quan hệ tình dục với đối tượng chưa rõ có nhiễm HIV không thì nên thực hiện các biện pháp an toàn khi quan hệ như Bao cao su. 

Trường hợp có các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục khác như giang mai, lậu,…. thì nên điều trị sớm vì đây là tiền đề dễ dàng lây nhiễm HIV/AIDS.

5.2 Phòng tránh lây truyền HIV/AIDS qua đường máu

  • Không tiêm chích ma túy.
  • Chỉ truyền/ nhận máu khi đã chắc chắn máu không bị nhiễm HIV.
  • Sử dụng bơm kim tiêm vô trùng, không sử dụng chung bơm kim tiêm.
  • Khi xăm trổ, châm cứu, phẩu thuật,.. phải tuyệt đối thực hiện việc khử trùng dụng cụ.
  • Trách tiếp xúc trực tiếp dịch của người bị nhiễm HIV.
  • Không dùng chung dụng cụ cá nhân với người bị nhiễm HIV như: dao cạo râu, bàn chải đánh răng, bấm móng tay.

5.3 Phòng lây qua đường mẹ truyền sang con

  • Phụ nữ bị nhiễm HIV không nên mang thai, nếu đang có thai bị nhiễm HIV thì không nên sinh con.
  • Trường hợp muốn có con thì cần đến sở y tế để được tư vấn về cách phòng lây nhiễm HIV sang cho con.
  • Sau khi sinh, nên dùng sữa công thức thay thế sữa mẹ.

5.4 Phòng chống khi tiếp xúc dưới 72 giờ bằng PEP 

Nếu bạn có các dấu hiệu đã nêu trên và chưa xét nghiệm HIV/AIDS lần nào hoặc kết quả xét nghiệm HIV là âm tính, bạn nên:

  • Tiếp cận trước 72 giờ: Dùng thuốc chống phơi nhiễm PEP và xét nghiệm HIV đảm bảo chưa bị HIV trước đây. Sau 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng xét nghiệm theo dõi
  • Tiếp cận quá 72 giờ nhưng chưa tới 3 tháng, xét nghiêm HIV theo dõi và gặp bác sĩ trực tiếp để giải toả lo lắng.
  • Nếu có dấu hiệu nêu trên và dương tính HIV uống ARV đúng phác đồ, xét nghiệm CD4, Kháng thuốc, gặp bác sĩ khám theo dõi định kì. 

Hiện tại không có vắcxin nào để phòng ngừa lây nhiễm HIV/AIDS, và cũng không có một liệu pháp nào có thể loại bỏ hoàn toàn virus HIV ra khỏi cơ thể. Nhiều chính phủ và nhiều tổ chức đã công bố lấy các tháng khác nhau làm “Tháng nhận thức bệnh AIDS”. Tháng được chọn nhiều nhất là tháng 10 và tháng 12. Tháng 12 được chọn vì trùng với “Ngày thế giới phòng chống bệnh HIV/AIDS”.

Ngày thế giới phòng chống bệnh AIDS (World AIDS Day) là ngày lễ quốc tế được cử hành vào ngày 1 tháng 12 hàng năm, nhằm nâng cao nhận thức về nạn dịch AIDS do việc lây nhiễm HIV, và cũng để tưởng nhớ các nạn nhân đã chết vì HIV/AIDS. WikiFCarePlus khuyên bạn việc giữ ý thức chủ động phòng tránh các nguy cơ lây nhiễm ngay từ ban đầu là rất cần thiết. Nên chọn lối sống tình dục lành mạnh, tránh xa các tệ nạn xã hội, cùng chung tay góp sức chống lại mối đe doạ huỷ diệt tương lai của toàn nhân loại.

Bài viết được tham khảo TẠI ĐÂY!

Đăng ký nhận thông tin mới nhất qua Email

       

KATHY

Một thế giới cảm xúc khác trong từng bài viết nhằm truyền tải những thông tin hữu ích đến từng bạn đọc