Bệnh quai bị là một bệnh nhiễm virus có thể gây sưng, đau một hoặc nhiều tuyến nước bọt (Parotid), ảnh hưởng đến tuyến sản xuất nước bọt nằm gần tai của bạn. Quai bị có thể bắt đầu với một vài biểu hiện sốt, nhức đầu, đau cơ, mệt mỏi và chán ăn trong vài ngày. Sau đó, hầu hết mọi người sẽ bị sưng tuyến nước bọt. Bệnh quai bị có khả năng gây ra các biến chứng nghiêm trọng như: mất thính lực, viêm tinh hoàn, sảy thai ở phụ nữ……

Dịch bệnh quai bị cuối cùng ở New Zealand là vào năm 1994 với 188 trường hợp nhập viện. Có đến 20 – 30 trường hợp bệnh quai bị vẫn được thông báo mỗi năm; khoảng một nửa là ở trẻ em dưới 10 tuổi. Một số người bị mắc phải không có triệu chứng hoặc những người khác chỉ có triệu chứng ở các cơ quan trong cơ thể như viêm màng não hoặc viêm tinh hoàn (viêm lan).

Bệnh quai bị rất phổ biến ở Hoa Kỳ cho đến khi việc tiêm phòng quai bị trở nên cần thiết không thể thiếu. Kể từ đó, số lượng các trường hợp bị nhiễm đã giảm đáng kể. Tuy nhiên, dịch quai bị vẫn xảy ra ở Hoa Kỳ và số ca mắc bệnh đã tăng lên trong những năm gần đây. Bệnh quai bị này thường ảnh hưởng đến những người không được tiêm phòng và xảy ra ở những nơi gần như trường học hoặc trường đại học.

1. Bệnh quai bị là bệnh gì?

Quai bị là một bệnh siêu vi cấp tính gây ra bởi virus RNA và truyền nhiễm do virus truyền từ người này sang người khác. Bệnh quai bị lây lan qua không khí khi ho và hắt hơi, do tiếp xúc qua nước bọt, dịch tiết mũi và tiếp xúc cá nhân gần gũi. Bệnh quai bị đặc trưng bởi sự sưng tấy của một hoặc nhiều tuyến nước bọt, điển hình là tuyến mang tai.

Thời gian ủ bệnh (tính từ khi nhiễm bệnh đến khi xuất hiện triệu chứng) trung bình là 16 đến 18 ngày và có thể dao động từ 2 đến 4 tuần. Một người bị mắc bệnh có thể bị nhiễm trùng từ 7 ngày trước khi tuyến nước bọt sưng lên cho đến 5 ngày sau đó. Những người không có triệu chứng cũng dễ lây lan cho người khác.

Tình trạng chủ yếu ảnh hưởng đến tuyến nước bọt, còn được gọi là tuyến mang tai. Những tuyến này chịu trách nhiệm sản xuất nước bọt. Có 3 bộ tuyến nước bọt ở mỗi bên mặt, nằm phía sau và bên dưới tai của bạn. Triệu chứng đặc trưng của quai bị là sưng tuyến nước bọt.

Mặc dù vắc-xin đã làm giảm đáng kể các trường hợp quai bị, nhưng dịch vẫn bùng phát. Bùng phát thường xảy ra nhất ở những nhóm người tiếp xúc lâu dài, gần gũi, chẳng hạn như:

  • Dùng chung chai nước hoặc ly tách,
  • Hôn môi, tập luyện thể thao cùng nhau
  • Sống ở khu vực gần với người bị quai bị hoặc có dịch bệnh……

Một số người được tiêm phòng vẫn có thể bị quai bị nếu họ tiếp xúc với virus. Tuy nhiên, các triệu chứng bệnh nhẹ hơn ở những người được tiêm chủng.

2. Nguyên nhân và triệu chứng của quai bị là gì?

2.1 Nguyên nhân

Quai bị là do một loại virus lây lan dễ dàng từ người sang người qua nước bọt bị nhiễm bệnh. Nếu bạn không được tiêm vắc-xin miễn dịch, bạn có thể bị quai bị bằng cách hít vào những giọt nước bọt từ người bị nhiễm bệnh vừa hắt hơi hoặc ho. Bạn cũng có thể mắc bệnh quai bị từ việc chia sẻ đồ dùng hoặc cốc với người bị nhiễm bệnh.

2.2 Triệu chứng

Một số người bị nhiễm virus của bệnh quai bị không có dấu hiệu hay triệu chứng, hoặc có những người xuất hiện triệu chứng rất nhẹ. Khi các dấu hiệu và triệu chứng phát triển, chúng thường xuất hiện khoảng 2 – 3 tuần sau khi tiếp xúc với virus. 

Các triệu chứng của bệnh quai bị thường xuất hiện trong vòng hai tuần sau khi tiếp xúc với virus. Dấu hiệu chính của quai bị là tuyến nước bọt sưng lên ngay dưới thùy tai khiến má phồng ra. Các dấu hiệu và triệu chứng khác giống như cúm có thể là lần đầu tiên xuất hiện có thể bao gồm:

  • Cơ thể yếu và mệt mỏi
  • nhức mỏi cơ thể
  • Đau đầu, đau cơ
  • ăn mất ngon
  • Sốt thấp
  • Sốt cao 39 ° C và sưng tuyến nước bọt sau vài ngày tới.
  • Đau ở tuyến nước bọt sưng ở một hoặc cả hai bên mặt
  • Đau khi nhai hoặc nuốt

Các tuyến có thể không sưng lên cùng một lúc. Thông thường, chúng sưng lên và trở nên đau theo định kỳ. Bạn rất có thể truyền virus của bệnh quai bị cho người khác kể từ khi bạn tiếp xúc với virus cho đến khi tuyến mang tai của bạn sưng lên. 

Trung bình dấu hiệu sốt thường kéo dài từ 1 đến 6 ngày, nhưng sưng tuyến nước bọt có thể kéo dài hơn 10 ngày. Các triệu chứng trên thường xuất hiện từ 16 – 18 ngày sau khi nhiễm bệnh, nhưng giai đoạn này có thể dao động từ 12 – 25 ngày sau khi nhiễm bệnh. 

Một số người mắc bệnh quai bị có các triệu chứng rất nhẹ như cảm lạnh, hoặc không có triệu chứng nào cả và có thể chính bản thân họ cũng không biết họ mắc bệnh. Hầu hết những người mắc phải quai bị sẽ phục hồi hoàn toàn trong vòng hai tuần. Trong một số ít trường hợp, bệnh quai bị có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng hơn.

Hầu hết trẻ em dưới 2 tuổi không có triệu chứng khi mắc bệnh quai bị. Những người trưởng thành nhiễm bệnh quai bị có nhiều khả năng bệnh sẽ nặng hơn. Tuy nhiên, một số người có triệu chứng ở các cơ quan khác ngoài tuyến nước bọt. Ví dụ, viêm màng não quai bị có thể là đau đầu, nhạy cảm với ánh sáng, cứng cổ, sốt hoặc nôn.

3. Các biến chứng liên quan đến bệnh quai bị là gì?

Thanh thiếu niên và người trưởng thành chưa được tiêm chủng có nguy cơ và nhiều khả năng gặp phải bệnh quai bị nghiêm trọng. Biến chứng từ bệnh quai bị rất hiếm, nhưng có thể nghiêm trọng nếu không được điều trị kịp thời.

Quai bị chủ yếu ảnh hưởng đến tuyến mang tai. Tuy nhiên, nó cũng có thể gây viêm ở các khu vực khác của cơ thể, bao gồm não và cơ quan sinh sản, chẳng hạn như:

Viêm tinh hoàn

Viêm tinh hoàn có thể là do biến chứng bệnh quai bị gây nên. Tình trạng này được gọi là viêm lan, làm cho 1 hoặc cả 2 tinh hoàn bị sưng ở nam giới đã đến tuổi dậy thì và 20-25% nam giới sau tuổi dậy thì. Viêm lan gây đau đớn, nhưng nó hiếm khi dẫn đến việc vô sinh.

Bạn có thể kiểm soát cơn đau do viêm lan bằng cách đặt túi lạnh lên tinh hoàn vài lần mỗi ngày. Bác sĩ có thể khuyên dùng thuốc giảm đau theo toa nếu cần thiết. Trong một số ít trường hợp, viêm lan có thể gây biến chứng dẫn đến vô sinh.

Viêm não và màng não

Viêm màng não do virus bệnh quai bị xảy ra khoảng 15% trong các trường hợp mắc phải, hậu quả lâu dài là rất hiếm. Nhiễm virus bệnh quai bị có thể dẫn đến viêm não và viêm màng não, gây ra các vấn đề về thần kinh và đe dọa tính mạng, có thể gây tử vong nếu không được điều trị.

Viêm não xảy ra ở khoảng 1/6.000 trường hợp. Còn viêm màng não là sưng màng quanh tủy sống và não, có thể xảy ra nếu virus quai bị lây lan qua máu của bạn để lây nhiễm hệ thống thần kinh trung ương. Nếu bạn bị co giật, mất ý thức hoặc đau đầu dữ dội trong khi đang mắc bệnh quai bị, cần liên hệ và đi khám bác sĩ ngay.

Viêm buồng trứng

Nữ giới khi bị nhiễm bệnh quai bị có thể bị sưng buồng trứng. Viêm bàng quang (buồng trứng bị viêm) xảy ra ở 5% phụ nữ sau tuổi dậy thì. Tình trạng viêm nặng có thể gây đau đớn nhưng không gây hại cho trứng của phụ nữ.

Tuy nhiên, nếu mắc bệnh quai bị khi mang thai sẽ có nguy cơ bị sẩy thai cao hơn bình thường. Phụ nữ mang thai bị bệnh quai bị trong ba tháng đầu của thai kỳ có nguy cơ sảy thai tăng lên, nhưng không có bằng chứng nào cho thấy quai bị gây ra bất thường cho thai nhi.

Viêm tuyến tụy

Viêm tụy là viêm một cơ quan trong khoang bụng. Viêm tụy do bệnh quai bị là một tình trạng tạm thời, các triệu chứng bao gồm: đau bụng trên, buồn nôn và nôn.

Gây tử vong

Tỷ lệ tử vong là trường hợp tổng thể từ bệnh quai bị khoảng 1,8/10.000 trường hợp. Còn lại là viêm các cơ quan khác, chẳng hạn như tuyến tụy, dây thần kinh, khớp, vú, thận, tuyến giáp và tim là có thể xảy ra.

Điếc tạm thời hoặc Mất thính lực

Điếc tạm thời với âm thanh tần số cao xảy ra khoảng 4/100 trường hợp. Virus bệnh quai bị cũng dẫn đến biến chứng mất thính lực vĩnh viễn ở khoảng 5/10.000 trường hợp.

Virus làm hỏng ốc tai, một trong những cấu trúc của tai trong việc tạo điều kiện cho thính giác. Mất thính giác có thể xảy ra ở một hoặc cả hai tai. Mặc dù biến chứng này là hiếm, nhưng có khả năng dẫn đến mất thính lực vĩnh viễn.

>>> Xem thêm: Ù tai phải và dấu hiệu “cảnh báo” 14 căn bệnh nguy hiểm

4. Điều trị bệnh quai bị như thế nào?

Bởi vì bệnh quai bị là một loại virus, nó không đáp ứng với thuốc kháng sinh hoặc các loại thuốc khác. Tuy nhiên, bạn có thể điều trị các triệu chứng để giúp bản thân thoải mái hơn khi bị bệnh, chẳng hạn như:

  • Nghỉ ngơi khi bạn cảm thấy yếu hoặc mệt mỏi.
  • Làm dịu các tuyến bị sưng bằng cách chườm túi nước đá.
  • Uống nhiều nước để tránh mất nước do sốt.
  • Ăn một chế độ ăn mềm súp, sữa chua và các thực phẩm khác không khó nhai (nhai có thể bị đau khi tuyến nước bọt của bạn bị sưng).
  • Tránh các thực phẩm và đồ uống có tính axit có thể gây đau nhiều hơn trong tuyến nước bọt của bạn.

Bạn thường có thể trở lại làm việc hoặc đi học khoảng một tuần sau khi bác sĩ chẩn đoán bệnh quai bị của bạn không còn nguy hiểm. Vì đến thời điểm ấy, bạn không còn ngy cơ truyền nhiễm nữa.

Trường hợp bạn có con nhỏ, bạn nên cho bé đến gặp bác sĩ nếu bạn hoặc con bạn có dấu hiệu và triệu chứng của bệnh quai bị. Quai bị rất dễ lây lan trong khoảng 9 ngày sau khi các triệu chứng xuất hiện. Bạn có thể đặt lịch hẹn trước với bác sĩ trước khi đến khám để tránh lây truyền virus cho người khác trong phòng chờ.

5. Phòng ngừa bệnh quai bị bằng cách nào?

Cách tốt nhất để phòng ngừa quai bị là tiêm vắc-xin phòng bệnh. Hầu hết mọi người đều có khả năng miễn dịch với bệnh quai bị sau khi được tiêm phòng đầy đủ. Trẻ sơ sinh và trẻ em đều được chủng ngừa sởi, quai bị và rubella (MMR) cùng một lúc. Lần tiêm ngừa vắc xin MMR đầu tiên thường được đưa ra trong độ tuổi từ 12 đến 15 tháng tại một lần khám cho trẻ bình thường.

Tiêm vắc-xin thứ hai là cần thiết cho trẻ em trong độ tuổi đi học từ 4 đến 6 tuổi. Với hai liều vắc-xin quai bị sẽ có hiệu quả khoảng 88%. Tỷ lệ hiệu quả chỉ tiêm một liều vắc xin là khoảng 78%.

Vắc-xin quai bị thường được tiêm dưới dạng tiêm sởi – quai bị – rubella (MMR) kết hợp, trong đó có dạng an toàn và hiệu quả nhất của mỗi loại vắc-xin. Nên tiêm 2 liều vắc-xin MMR trước khi trẻ đi học. Những đối tượng nên được tiêm là:

  • Trẻ sơ sinh từ 12 đến 15 tháng tuổi.
  • Trẻ nhỏ từ 4 đến 6 tuổi
  • Sinh viên đại học, du khách quốc tế và nhân viên chăm sóc sức khỏe nói riêng được khuyến khích để đảm bảo rằng họ đã tiêm 2 liều vắc-xin MMR.

Tiêm vắc xin một liều duy nhất không hoàn toàn hiệu quả trong việc ngăn ngừa quai bị. Tuy nhiên, một liều vắc-xin thứ ba không được khuyến cáo thường xuyên. Nhưng bác sĩ có thể đề nghị bạn tiêm thêm một liều thứ ba nếu bạn đang ở trong khu vực có đợt bùng phát dịch bệnh.

Các cách phòng ngừa khác

  • Vệ sinh cá nhân và nhà cửa
  • Không sử dụng chung các dụng cụ ăn uống (muỗng, nĩa, ly, chén, dĩa v.v…)
  • Thường xuyên lau sạch sàn nhà, bàn ghế, rửa sạch các đồ chơi của trẻ.
  • Rửa tay nhiều lần bằng xà phòng trong ngày, nhất là sau khi đi vệ sinh và trước khi ăn.
  • Che miệng khi ho, khi hắt hơi, sau đó phải rửa tay ngay bằng xà phòng.

6. Đối tượng nào “Cần và Không cần” tiêm vắc-xin MMR?

Bạn không cần tiêm phòng nếu:

  • Đã tiêm 2 liều vắc-xin MMR sau 12 tháng tuổi
  • Đã tiêm 1 liều MMR sau 12 tháng tuổi và bạn là trẻ em mẫu giáo hoặc người lớn không có nguy cơ mắc bệnh sởi hoặc quai bị cao.
  • Làm xét nghiệm máu chứng minh khả năng miễn dịch của bạn với bệnh sởi, quai bị và rubella
  • Được sinh ra trước năm 1957 – hầu hết những người trong độ tuổi đó có khả năng bị nhiễm virus một cách tự nhiên và có khả năng miễn dịch

Ngoài ra, vắc-xin không được khuyến nghị cho:

  • Những người đã có một phản ứng, dị ứng đe dọa tính mạng với kháng sinh Neomycin hoặc bất kỳ thành phần nào khác của vắc-xin MMR
  • Những người có hệ thống miễn dịch bị tổn thương nghiêm trọng
  • Những người đã chủng ngừa MMR 2-3 mũi trước đó.

Lưu ý: Vì vắc-xin ngừa bệnh quai bị chứa virus sống, nên không tiêm ngừa quai bị khi:

  • Suy giảm miễn dịch nặng.
  • Bệnh ác tính toàn thân: bệnh bạch cầu, u lympho…
  • Đang điều trị corticoid toàn thân liều cao, thuốc chống chuyển hóa, độc tế bào, xạ trị chống ung thư.
  • Phụ nữ mang thai và nghi ngờ mang thai không được tiêm vắc-xin quai bị.
  • Những phụ nữ được tiêm vắc-xin quai bị cần áp dụng biện pháp ngừa thai trong thời gian ít nhất là 28 ngày sau khi tiêm.

Bạn nên chủng ngừa nếu bạn:

  • Là một phụ nữ không mang thai trong độ tuổi sinh đẻ
  • Đi học đại học hoặc một trường sau trung học
  • Làm việc trong bệnh viện, cơ sở y tế, trung tâm chăm sóc trẻ em hoặc trường học
  • Lên kế hoạch đi du lịch nước ngoài hoặc đi du thuyền
  • Thuộc đối tượng chờ đợi để chủng ngừa MMR

Ngoài ra, bạn cần cân nhắc chờ đợi và hoãn lại ý định tiêm vắc xin bệnh quai bị nếu bạn đang mắc bệnh quai bị nhẹ hoặc nặng, nên đợi đến khi bạn hồi phục thì hãy tiến hành. Trường hợp nếu đang mang thai, hãy đợi đến khi bạn sinh con xong.

Bạn cần lưu ý và nói chuyện với bác sĩ trước khi tiêm vắc-xin quai bị nếu bạn:

  • Bị ung thư
  • Bị rối loạn máu
  • Có một bệnh ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch của bạn, chẳng hạn như bệnh HIV / AIDS
  • Đang được điều trị bằng thuốc, chẳng hạn như steroid, ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch của bạn
  • Đã nhận được một loại vắc-xin khác trong vòng 4 tuần qua

7. Tác dụng phụ của vắc-xin MMR là gì?

Vắc-xin MMR rất an toàn và hiệu quả. Tiêm vắc-xin MMR an toàn hơn nhiều so với việc để bản thân mình tự miễn dịch với bệnh quai bị một cách tự nhiên. Hầu hết mọi người không gặp tác dụng phụ từ vắc-xin MMR. Một số người bị sốt nhẹ hoặc phát ban hay đau khớp trong một thời gian ngắn.

Hiếm khi có trường hợp trẻ em tiêm vắc-xin MMR có thể bị co giật do sốt. Các báo cáo mở rộng từ “Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ, Viện Y học và Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật” kết luận rằng không có mối liên hệ nào giữa vắc-xin MMR và bệnh tự kỷ.

Lời nhắn từ Wiki FCarePlus

“Sức khỏe là một tài sản quý giá, đừng đợi đến lúc mất đi rồi mới tìm cách khắc phục thì dù có tiêu tốn bao nhiêu sức lực và của cải cũng không thể cứu chữa được. Hãy nhớ rằng hầu hết bất ổn sức khỏe đều do sự mất cân bằng trong cơ thể; ngay tại nơi mất cân bằng đó, lượng tế bào chết đi quá nhiều”.

Vậy nên, bên cạnh việc việc tìm lời khuyên sức khỏe từ các Bác sĩ, chuyên gia, bạn hãy dành thời gian quan tâm và lắng nghe tế bào cơ thể mình nhiều hơn bằng cách hãy tự hỏi: “Tế bào ơi, bạn cần gì?” Hãy bắt đầu quan tâm đến việc bổ sung những nguồn dưỡng chất tự nhiên mà tế bào của bạn thật sự cần. Hãy quan tâm đến chế độ dinh dưỡng khoa học, uống nước đúng cách, nghỉ ngơi và luyện tập thể dục đều đặn mỗi ngày các bạn nhé!

>>> Xem thêm: Ù tai chóng mặt và 5 căn bệnh bạn có nguy cơ mắc phải

Bài viết được tham khảo TẠI ĐÂY!

Đăng ký nhận thông tin mới nhất qua Email

       

KATHY

Một thế giới cảm xúc khác trong từng bài viết nhằm truyền tải những thông tin hữu ích đến từng bạn đọc