Quai bị (tiếng Anh là Mumps) dân gian còn gọi là “Bệnh má chàm bàm” – một bệnh toàn thân biểu hiện bằng sưng một hay nhiều tuyến nước bọt, thường gặp nhất là các tuyến mang tai. Khoảng 1/3 các trường hợp nhiễm bệnh không gây nên các triệu chứng sưng tuyến nước bọt rõ ràng trên lâm sàng. Trên 50% bệnh nhân mắc bệnh quai bị có hiện tượng tăng bạch cầu trong dịch não tủy.

Một số bệnh nhân có biểu hiện viêm màng não rõ với các triệu chứng nhức đầu, nôn mửa, cứng cổ…Viêm tinh hoàn (orchitis) là một biến chứng khá thường gặp sau tuổi dậy thì nhưng biến chứng vô sinh thì không thường gặp như nhiều người vẫn lo ngại. Để hiểu thêm về những thông tin quan trọng của bệnh Quai bị, Wiki FcarePlus sẽ hỏi đáp cùng bạn những thông tin cần tham khảo sau đây.

Nội dung chính trong bài:

1. Nguyên nhân gây quai bị là gì?

Quai bị do virus Paramyxovirus gây nên. Bệnh quai bị (còn được gọi là bệnh viêm tuyến mang tai dịch tễ hay viêm tuyến mang tai do virus quai bị) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính. Biểu hiện lâm sàng phổ biến nhất là viêm tuyến nước bọt mang tai không hóa mủ.

Quai bị là một bệnh khá phổ biến ở Việt Nam. Bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ với biểu hiện là nhiễm trùng tuyến nước bọt. Quai bị có thể có nguy cơ biến chứng nghiêm trọng nếu không được điều trị đúng cách và kịp thời.

2. Quai bị lây lan như thế nào?

Quai bị lây lan từ người sang người qua những giọt nước nước bọt hoặc chất nhầy từ miệng, mũi hoặc cổ họng của một người bị nhiễm bệnh, thường là khi người đó ho, hắt hơi, hoặc nói chuyện. 

Virus cũng có thể lây lan gián tiếp khi ai đó bị nhiễm quai bị chạm vào vật dụng hoặc bề mặt mà không rửa tay, sau đó một người khác chạm vào cùng một bề mặt và xoa miệng hoặc mũi của họ. Quai bị ít lây hơn sởi hoặc thủy đậu.

>>> Xem thêm: Bệnh quai bị và 6 biến chứng nguy hiểm cần lưu ý

3. Thời gian ủ bệnh trong bao lâu?

Thời gian ủ bệnh của quai bị thường là 16 – 18 ngày, nhưng có thể dao động từ 12 – 25 ngày.

4. Các triệu chứng của quai bị là gì?

Những người bị mắc phải quai bị đầu tiên thường cảm thấy các triệu chứng không đặc hiệu như đau đầu, chán ăn và sốt nhẹ. Dấu hiệu phổ biến nhất của quai bị là viêm mũi, sưng nước bọt các tuyến hoặc tuyến mang tai, dưới tai. 

Viêm mũi chỉ xảy ra ở 31% đến 65% số người nhiễm bệnh với quai bị. Từ 15% đến 27% người mắc bệnh không có dấu hiệu hoặc triệu chứng của bệnh. Mặt khác, người bệnh có thể có triệu chứng hô hấp hoặc chỉ có các triệu chứng như đau đầu, chán ăn và sốt thấp.

5. Quai bị nghiêm trọng như thế nào?

Ở trẻ em, quai bị thường là một bệnh nhẹ. Người lớn có thể mắc bệnh và bị ảnh hưởng nghiêm trọng hơn bởi các biến chứng nguy hiểm.

6. Các biến chứng từ quai bị là gì?

Biến chứng ở nam giới

Trước khi có vắc-xin, quai bị chiếm khoảng 10% viêm màng não do virus được báo cáo ở Hoa Kỳ. Những trạng thái của biến chứng này bây giờ rất hiếm. Khoảng 10% nam giới sau khi sinh bị viêm lan (tinh hoàn viêm) là một biến chứng của quai bị. 

Điều này có thể liên quan đến đau, sưng, buồn nôn, nôn và sốt, sự khó chịu của khu vực bị đau có thể kéo dài tuần. Khoảng một nửa số bệnh nhân bị viêm lan gặp một số mức độ biến chứng như teo tinh hoàn, nhưng điều này là vô cùng hiếm.

Biến chứng ở nữ giới

Viêm buồng trứng (viêm bàng quang) hoặc vú (viêm vú) có thể xảy ra ở những phái nữ đến tuổi dậy thì. Đối với phụ nữ mang thai, nhất là trong 3 tháng đầu của thai kỳ, bệnh có nguy cơ tăng sự phá thai tự phát (sẩy thai). Tuy nhiên, không có bằng chứng cho thấy quai bị gây ra dị tật bẩm sinh. 

Mất khả năng thính giác

Suy giảm thính lực hay bị điếc ở một hoặc cả hai tai có thể xảy ra. Tuy nhiên trường hợp ở độ chính xác chỉ có 1/20.000 trường hợp mắc quai bị.

Các biến chứng khác

Các biến chứng khác hiếm gặp hơn gồm viêm khớp, viêm tuyến giáp, viêm khớp xương hàm, viêm cầu thận, (glomerulonephritis), viêm cơ tim, xơ hóa nội tâm mạc, giảm tiểu cầu, thất điều tiểu não, viêm tủy cắt ngang, viêm đa dây thần kinh lan lên, viêm tụy cấp, viêm buồng trứng (oophoritis),…..

7. Có cách điều trị quai bị không?

Không có cách chữa trị quai bị, chỉ có điều trị hỗ trợ y tế và tinh thần như: nghỉ ngơi tại giường, ăn uống dinh dưỡng và dùng các biện pháp giảm sốt).

8. Quai bị được chẩn đoán như thế nào?

Quai bị được chẩn đoán bởi sự kết hợp của các triệu chứng và các dấu hiệu thực thể được xác nhận trong phòng thí nghiệm virus, vì không phải tất cả các trường hợp phát triển đặc trưng viêm Parot và không phải tất cả các trường hợp viêm Parot là do quai bị.

9. Bao lâu quai bị có nguy cơ gây truyền nhiễm?

Những người bị mắc bệnh quai bị thường được xem là có nguy cơ truyền nhiễm từ một vài ngày trước cho đến 5 ngày sau khi xuất hiện các triệu chứng của viêm mũi. Do đó, CDC khuyến nghị nên cách ly bệnh nhân quai bị trong 5 ngày sau khi các tuyến bắt đầu sưng lên.

10. L bị phơi nhiễm quai bị có thể tiêm phòng?

Nếu người bị phơi nhiễm chưa được tiêm ngừa quai bị thì việc nhận vắc-xin sau khi tiếp xúc virus sẽ không giúp ngăn ngừa bệnh.

Tuy nhiên, nếu một người đã lỡ tiếp xúc với người bị nhiễm bệnh quai bị hoặc sau khi tiếp xúc với các vật dụng hay bề mặt có dính virus nhưng không bị nhiễm thì vắc-xin có thể giúp bảo vệ người đó chống lại nhiễm virus quai bị trong tương lai.

11. Quai bị phổ biến ở Hoa Kỳ như thế nào?

Do bảo hiểm miễn dịch tốt, bệnh quai bị bây giờ được xem là hiếm ở Hoa Kỳ. Ước tính có khoảng 212.000 trường hợp xảy ra vào năm 1964, trong khi chỉ có 229 trường hợp báo cáo năm 2012.

Một số đợt bùng phát lớn của bệnh quai bị đã xảy ra ở Mỹ từ năm 2006, chủ yếu là ở các trường đại học. Có tới 6.500 trường hợp báo cáo trong những năm có dịch bệnh xảy ra.

12. Bệnh quai bị có thể bị mấy lần?

Hầu hết mọi người chỉ mắc quai bị 1 lần trong đời. Đây là bệnh ít có khả năng tái phát. Thường 2 bệnh dễ bị nhầm với bệnh quai bị đó là viêm tuyến nước bọt do vi khuẩn và sỏi tuyến nước bọt.

Đây là những bệnh dễ tái phát, cản trở tuyến nước bọt nên dễ gây sưng phù. Bệnh sẽ tái phát nếu sỏi vẫn còn. Chính vì vậy, người bệnh thường nhầm tưởng rằng mình bị tái phát quai bị nhiều lần.

13. Vắc-xin sởi, quai bị, và rubella có sẵn khi nào?

Vắc-xin sởi đầu tiên đã có sẵn vào năm 1963 (một hỗn hợp virus sống) mà phần lớn được thay thế bằng một sự suy giảm. Việc thêm vắc-xin virus sống được cấp phép vào năm 1968.

Vắc-xin quai bị lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1967 và vắc-xin rubella vào năm 1969. Ba loại vắc-xin này đã được kết hợp vào năm 1971 để tạo thành vắc-xin bệnh sởi – quai bị – rubella (MMR). Vắc-xin MMR giúp ngăn ngừa hoặc làm suy yếu các chủng sởi, quai bị và virus rubella.

Một loại vắc-xin khác bao gồm cả MMR và varicella (thủy đậu) được gọi là MMRV đã có sẵn vào năm 2005. Vắc-xin đơn kháng sởi, quai bị và rubella không còn có sẵn ở Hoa Kỳ.

14. Tiêm vắc xin MMR như thế nào? Đối tượng nào cần được tiêm?

Vắc-xin MMR là một mũi tiêm dưới da (trong lớp mô mỡ của cánh tay trên). Đối tượng tiêm ngừa là tất cả trẻ em, thanh thiếu niên và người lớn sinh từ năm 1957. 

Ngoài ra, một số nhân viên y tế và những người được sinh ra trước năm 1957 cũng có thể cần tiêm phòng hoặc bằng chứng khác về miễn dịch để đảm bảo sự an toàn.

15. Loại bằng chứng nào của hệ thống miễn dịch có thể thay thế cho tiêm vắc-xin MMR?

Bằng chứng về khả năng miễn dịch có thể được thể hiện bằng cách có chứng thực trong phòng thí nghiệm về khả năng miễn dịch đối với bệnh sởi, quai bị, rubella.

Tuy nhiên, nếu một người không có bằng chứng về miễn dịch đối với cả 3 bệnh trên (ví dụ: sởi, quai bị, và rubella), họ vẫn cần được tiêm phòng với MMR vì vắc-xin không có sẵn như là một sản phẩm kháng nguyên duy nhất ở Mỹ.

16. Ở độ tuổi nào nên được tiêm MMR?

Liều đầu tiên của vắc-xin MMR nên được tiêm ở trẻ sơ sinh từ 12 – 15 tháng tuổi. Liều thứ hai thường được tiêm lúc 4 – 6 tuổi, nhưng có thể được tiêm sớm hơn miễn là liều tiêm lần 1 cách liều tiêm lần 2 đã được ít nhất 28 ngày.

17. Vắc xin MMR có hiệu quả như thế nào?

Các nghiên cứu sau cấp phép đã chứng minh “một liều Vắc-xin MMR” có hiệu quả 78% để phòng ngừa quai bị. ”Hai liều MMR” đạt khoảng 88% hiệu quả trong việc ngăn ngừa quai bị.

18. Thanh thiếu niên và người lớn nào được tiêm vắc-xin MMR?

Tất cả thanh thiếu niên và người lớn chưa được tiêm chủngđều có thể tiêm vắc-xin và có thể cần tiêm hai liều MMR. 

Tất cả người lớn sinh vào hoặc sau năm 1957 cũng nên tiêm chủng. Do những người sinh trước năm 1957 có khả năng bị sởi hoặc bệnh quai bị khi còn nhỏ nói chung  được coi là không cần tiêm phòng.

19. Người lớn nào cần hai liều vắc-xin MMR?

Một số người trưởng thành có nguy cơ tiếp xúc sởi, quai bị, rubella bao gồm:

  • Sinh viên đại học hoặc những người có kế hoạch di du lịch – nhất là du lịch nước ngoài
  • Nhân viên y tế sống trong một cộng đồng đang trải qua một ổ dịch nên được xem xét để tái định hình với 2 liều vắc-xin MMR.
  • Những người tiếp xúc với người mắc bệnh sởi và quai bị trong thời gian gần nhất.

20. Sinh viên đại học có cần tiêm liều MMR thứ ba không?

Không cần thiết nếu không có chỉ định từ bác sĩ. Tuy nhiên, năm 2018 CDC (Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh) khuyến nghị những người ta đã tiêm 2 liều vắc-xin MMR có nguy cơ mắc quai bị vì sống gần hoặc trong một ổ dịch, nên nhận được liều tiêm MMR thứ ba.

21. Tại sao nhân viên y tế cần tiêm phòng hoặc chứng nhận khác về khả năng miễn dịch với bệnh sởi, quai bị, và rubella?

Những người làm việc trong các cơ sở y tế có rất nhiều nguy cơ mắc bệnh cao hơn những người khác. Tất cả những người làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe đều cần tiêm chủng hoặc có bằng chứng về sự miễn dịch của bản thân.

22. Vắc-xin này được đề nghị bởi các tổ chức nào?

Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (CDC), Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ (AAP), Học viện Bác sĩ Gia đình Hoa Kỳ (AAFP), Đại học Sản khoa và Gynecol-ogists (ACOG) và Đại học Vật lý Hoa Kỳ (ACP) đã đề nghị vắc-xin này.

23. Vắc xin này an toàn đến mức nào?

Hàng trăm triệu liều vắc-xin sởi, quai bị, rubella được điều chế hoặc vắc-xin MMR kết hợp đã được đưa ra công bố ở Hoa Kỳ đảm bảo hồ sơ an toàn của nó là tuyệt đối.

24. Vắc-xin MMR có gây ra tác dụng phụ?

Sốt là tác dụng phụ phổ biến nhất, xảy ra trong khoảng 5-15% trên những người tiêm vắc-xin. Khoảng 5% số người bị phát ban nhẹ. Khi xảy ra tác dụng phụ, sốt và phát ban thường xuất hiện từ 7 – 12 ngày sau khi tiêm phòng.

Khoảng 25% phụ nữ trưởng thành được tiêm vắc-xin MMR sẽ xuất hiện tình trạng đau khớp tạm thời, một triệu chứng liên quan đến thành phần rubella của vắc-xin kết hợp. Đau khớp chỉ xảy ra ở những phụ nữ không được miễn dịch rubella tại thời điểm tiêm chủng. 

Vắc-xin MMR có thể gây giảm tiểu cầu (số lượng tiểu cầu thấp) tại tỷ lệ khoảng 1/30.000 trường hợp. Các trường hợp hầu như luôn luôn là tạm thời và không nguy hiểm đến tính mạng. Phản ứng nghiêm trọng hơn, bao gồm phản ứng dị ứng khác là rất hiếm. 

25. Ai không nên chủng ngừa MMR?

Bất cứ ai có phản ứng dị ứng nghiêm trọng (ví dụ nổi mề đay, sưng môi, lưỡi hoặc cổ họng, khó thở) sau khi tiêm liều MMR đầu tiên thì không nên nhận liều thứ hai. 

Những người biết rõ bản thân mình bị dị ứng với thành phần MMR (ví dụ: gelatin, neomycin) không nên nhận vắc-xin này. Phụ nữ có thai không nên chủng ngừa MMR và nên tránh mang thai trong 4 tuần sau khi tiêm phòng bằng MMR. Tuy nhiên, phụ nữ đang cho con bú có thể được tiêm phòng.

Người suy giảm miễn dịch nặng không nên tiêm vắc-xin MMR, bao gồm những người có các tình trạng như suy giảm miễn dịch bẩm sinh, AIDS, bệnh bạch cầu, ung thư hạch, bệnh ác tính tổng quát và những người được điều trị ung thư bằng thuốc, bị nhiễm phóng xạ hoặc sử dụng liều lớn của corticosteroid. 

26. Người bị dị ứng trứng có thể tiêm vắc-xin MMR?

Vắc-xin MMR có thể được tiêm cho những người bị dị ứng trứng mà không cần thử nghiệm trước hoặc sử dụng các biện pháp phòng ngừa đặc biệt.

27. Vắc-xin MMR có gây ra bệnh tự kỷ không?

Không có bằng chứng khoa học cho thấy vắc-xin bệnh sởi hay vắc-xin MMR, hoặc bất kỳ loại vắc-xin khác gây ra bệnh tự kỷ. 

Điều này đã được xem xét rộng rãi bởi các nhóm chuyên gia độc lập ở Mỹ bao gồm cả Quốc gia Học viện Khoa học Viện Y học. Những đánh giá đã kết luận rằng không có yếu tố gây bệnh giữa vắc-xin MMR và bệnh tự kỷ.

28. Điều gì sẽ xảy ra nếu phụ nữ mang thai tiêm Vc-xin MMR?

Phụ nữ mang thai luôn được khuyến nghị không nên tiêm MMR là một biện pháp phòng ngừa an toàn dựa trên khả năng lý thuyết của một loại vắc-xin chứa virus sống gây ra bệnh (ví dụ virus rubella dẫn đến bẩm sinh hội chứng rubella CRS).

Do một số phụ nữ đã vô tình tiêm vắc-xin này trong khi mang thai hoặc sớm thụ thai sau khi tiêm sẽ cảm thấy hoang mang lo lắng. Tuy nhiên, nguy cơ ảnh hưởng cho thai nhi từ việc tiêm vắc-xin rubella của người mẹ dường như cực kỳ thấp hoặc bằng không.

Tuy nhiên, thai phụ được khuyến nghị nên tìm đến các bác sĩ chuyên gia nhằm tư vấn cá nhân trong các tình huống nếu lỡ mang thai trước hoặc sau khi tiêm MMR trong thời gian không an toàn, thay vì tự ý chấm dứt thai kỳ gây nên tổn hại không mong muốn.

Lời nhắn từ Wiki FCarePlus

“Sức khỏe là một tài sản quý giá, đừng đợi đến lúc mất đi rồi mới tìm cách khắc phục thì dù có tiêu tốn bao nhiêu sức lực và của cải cũng không thể cứu chữa được. Hãy nhớ rằng hầu hết bất ổn sức khỏe đều do sự mất cân bằng trong cơ thể; ngay tại nơi mất cân bằng đó, lượng tế bào chết đi quá nhiều”.

Vậy nên, bên cạnh việc việc tìm lời khuyên sức khỏe từ các Bác sĩ, chuyên gia, bạn hãy dành thời gian quan tâm và lắng nghe tế bào cơ thể mình nhiều hơn bằng cách hãy tự hỏi: “Tế bào ơi, bạn cần gì?” Hãy bắt đầu quan tâm đến việc bổ sung những nguồn dưỡng chất tự nhiên mà tế bào của bạn thật sự cần. Hãy quan tâm đến chế độ dinh dưỡng khoa học, uống nước đúng cách, nghỉ ngơi và luyện tập thể dục đều đặn mỗi ngày các bạn nhé!

>>> Xem thêm: Hướng dẫn Y tế dự phòng: Cần khám sức khỏe định kì và tầm soát ung thư như thế nào?

Bài viết được tham khảo TẠI ĐÂY!

Đăng ký nhận thông tin mới nhất qua Email

       

KATHY

Một thế giới cảm xúc khác trong từng bài viết nhằm truyền tải những thông tin hữu ích đến từng bạn đọc